Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 5
Tháng 01 : 36
Năm 2021 : 36
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hoạt động cđ

đề tài sáng kiến kn "Một số biện pháp nhằm giáo dục HS trường bán trú"

A – Mục đích, sự cần thiết.

Trong quá trình công tác, mỗi người thầy đều từng bước đúc kết cho mình những kinh nghiệm bổ ích để nâng cao hiệu quả công tác. Bản thân tôi cũng đã rất để tâm đến việc rút ra các kinh nghiệm riêng của mình, những điều liên quan đến việc giảng dạy,công tác chủ nhiệm .... Đó là những vướng mắc, những nhược điểm, những khó khăn và có cả những thành công mà mỗi người thầy chúng ta đều nếm trải.

Có thể nói rằng, công tác chủ  nhiệm lớp trong nhà trường phổ thông nói chung và THCS nói riêng hiện nay, là công việc nhiều giáo viên hay né tránh vì có lẽ đây là một nhiệm vụ mà người thầy gặp nhiều khó khăn trong hoàn cảnh phát triển xã hội có nhiều diễn biến phức tạp, đội ngũ GV trong nhà trường không còn biên chế mà các lực lượng giáo dục khác chưa thể thay thế, tất cả dồn cho trách nhiệm của người GV chủ nhiệm.Trong khi đó ngoài công tác giáo dục ý thức đạo đức cho các em HS, mỗi người thầy, cô còn phải  rèn rũa, truyền tải được các “kĩ năng sống ” cho HS, đây cũng là mối quan tâm không riêng của ngành giáo dục, mà đã trở thành vấn đề cả xã hội đều phải chung tay thực hiện. Vấn đề HS gây mất đoàn kết, trộm cắp tài sản, không biết chào hỏi thầy cô, nhút nhát không dám tham gia các hoạt động của lớp, của trường, chưa biết xử lí tốt các tình huống diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, ... được bàn đến trong tất cả các trường học, được mọi giới quan tâm, mà nhất là đối với các em HS trên địa bàn Nà Bủng chúng tôi, gần 100% các em là người dân tộc Mông, nên việc trao đổi cả về ngôn ngữ cũng như truyền tải kiến thức, các kĩ năng sống tới các em gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên bất kỳ trường học nào, lớp học nào cũng đều phải có các biện pháp về công tác giáo dục các kĩ năng sống, giá trị sống cho các em HS, mà nhất là đối với các em HS trường PTDTBT-THCS, thế nên chúng ta đã phải làm gì để truyền tải cũng như giáo dục các em có được những kĩ năng sống hay nói cụ thể hơn là giúp các em phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Áp dụng biện pháp và cách truyền tải tới các em như thế nào để có thể giúp cho các em học sinh có được những kĩ năng năng sống tốt, dần trở thành những học sinh ngoan ngoãn, lễ phép, mạnh dạn trong giao tiếp, cuộc sống hàng ngày, biết xử lí nhanh, tốt các tình huống thường hay xảy ra trong cuộc sống đời thường, giúp các em phát triển toàn diện. Bản thân là một giáo viên sau nhiều năm làm công tác giảng dạy và chủ nhiệm với nhiều bức xúc trước những vấn nạn về học sinh chưa ngoan, nhút nhát, cá biệt,...  trở thành sự lo ngại của cả gia đình, nhà trường và xã hội. Bản thân tôi cũng chứng kiến không ít các trường hợp học sinh rơi và các trường hợp như trên, tuy nhiên nếu được sự quan tâm giáo dục đúng mực thì các em đó sẽ có thể hoạt động một cách độc lập, giúp các em tránh được những khó khăn trong quá trình sống và làm việc. Đồng thời có thể thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh.

Từ thực tế nêu trên, tôi xin nêu “ Một vài kinh nghiệm  nhằm giáo dục rèn kĩ năng sống cho HS vùng khó”     

Áp dụng cho năm học 2017-2018 và nhiều năm học tiếp theo.

B. Phạm vi triển khai thực hiện.

1. Phạm vi triển khai:

Là  một giáo viên sau nhiều năm công tác tại trường PTDTBT-THCS Nà Bủng. Qua các năm học được phân công vừa là giáo viên giảng dạy và vừa làm công tác chủ nhiệm lớp liên tục từ lớp 6 đến lớp 9.Với đối tượng HS chủ yếu là con em đồng bào dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn trình độ nhận thức của các em còn hạn chế, phát triển không đồng đều. Do vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc dạy và học của nhà trường cũng như HS, mà chủ yếu nhất là vấn đề giáo dục ý thức đạo đức HS và rèn kĩ năng sống cho các em. Ngoài công tác trang cấp cho các em có các kiến thức về văn hóa, chúng ta còn giáo dục cho các em trở thành những con người có phẩm chất đạo đức tốt, có đầy đủ các kĩ năng sống cho bản thân, đồng thời là người có ích cho xã hội.

2. Thời gian thực hiện.

Thời gian để thực hiện đề tài: Trong năm học 2017-2018  trên cơ sở là trường PTDT BT-THCS

3. Phạm vi áp dụng.

- Tại lớp 6A1 trường PTDTBT-THCS Nà Bủng

- Các nội dung liên quan tới vấn đề giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục rèn kĩ năng sống cho các em HS.

- Các tài liệu tham khảo: Các văn bản hướng dẫn, các loại sách về giáo dục kĩ năng sống của trong các môn học và các cấp học, ....

4. Phương pháp thực hiện.

* Nghiên cứu các văn bản quy định: Đây là cơ sở pháp lí giúp người GV nắm vững nghiệp vụ khi thi hành công việc “Về nhiệm vụ và quyền của học sinh”; “ Nội quy đối với học sinh trường THPT ”; “Quy định đánh giá và xếp loại học sinh” “Quy định khen thưởng và kỉ luật ”. “ Nhiệm vụ và quyền của GV ” : Trong những buổi tập trung học sinh đầu năm, phổ biến đến HS những nét đáng chú ý trong “Nội quy học sinh”: Tác phong không đúng quy định, vắng có giấy phép, lí do không chính đáng, trốn tiết, sử dụng ĐTDĐ trong tiết học, gây gỗ - đánh nhau- lấy cắp, giao tiếp ứng xử, xử lí tình huống, vi phạm 5 điều cấm đối với học sinh. Và 5 tiêu chí đánh giá tiết học....

*Nghiên cứu các tài liệu liên quan về công tác chủ nhiệm lớp, công tác giáo dục rèn luyện tu dưỡng phẩm chất đạo đức HS.

* Tìm hiểu học sinh trong trường, lớp chủ nhiệm: Công việc này rất cần thiết để GV có cách tổ chức, quản lí đúng đắn và thực hiện được  kế hoạch theo dự kiến trong bản đăng kí nhiệm vụ năm học.

C- NỘI DUNG.

a) Tình trạng giải pháp đã biết:

* Thế nào là kĩ năng sống(KNS)? KNS có thể là:

• Là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực.

• Là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới.

• KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:Học để biết, học làm người, học để sống với người khác, học để làm.

Thế nào là HS vùng khó? Học sinh vùng khó có thể là:

• Học sinh các đồng bào dân tộc thiểu số.

• Học sinh vùng cao, khó khăn về giao thông đi lại, về học tập...

• Học sinh ở những vùng có nền văn hóa còn phát triển chậm.

• Học sinh chưa nhận thức hết được ý nghĩa của công việc học tập....

• Học sinh khó khăn trong giao tiếp bằng ngôn ngữ chung(tiếng phổ thông) ...

• Học sinh thường xuyên nghỉ học tự do, bỏ học, lấy vợ lấy chồng sớm, nhút nhát,...

Sau nhiều năm công tác, tôi nhận thấy HS vùng khó gặp rất nhiều khó khăn về học tập, nhận thức về giá trị cuộc sống… Mỗi GV chúng ta cần phải dạy dỗ, rèn luyện, giáo dục cho các em có được những kĩ năng sống tốt, hiểu được ý nghĩa của việc học tập và thấm nhuần trong các em về giá trị cuộc sống. Ngoài năng lực chuyên môn ra GV chúng ta còn là một nhà tâm lý, hiểu thấu đáo những suy nghĩ, tâm tư của các em HS, nhất là đối với các đ/c làm công tác chủ nhiệm.Nhiều lúc, GVCN phải tự đặt mình vào vị thế của HS để hiểu được hành vi và thái độ của các em với cương vị là người trong cuộc.Và cũng có những lúc, GVCN đóng vai trò như một người cha, người mẹ thứ hai để giáo dục cũng như dạy dỗ các em, trên nhà trường có lúc người GVCN như vị quan tòa có lập luận sắc bén, biết cầm cân nảy mực và đặc biệt là phải quang minh chính đại, không thiên vị một em HS nào,...

Nếu như đối với các em HS ở vùng phát triển thì vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho các em có thể thuận lợi hơn, nhưng việc giáo dục kĩ năng sống hay rèn kĩ năng sống cho các em HS ở vùng khó tôi nghĩ rằng cũng không khó khăn là mấy nếu như tất cả các thầy cô giáo có tâm huyết với nghề, bởi vì tôi thấy các em HS ở trên này đa số các em rất ngoan, cần cù và chịu khó, biết nghe lời thầy, chỉ có một số ít em là ngỗ ngược, luôn muốn tự khẳng định mình, và khó khăn chủ yếu của HS vùng khó là các em ít được tiếp xúc với những môi trường sống phát triển, tiếng phổ thông còn hạn chế dẫn đến việc giao tiếp khó khăn,…Vì thế, mỗi một GV chúng ta muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trước hết phải thực sự thương yêu HS, coi các em như người thân của mình.Khi đã có tình yêu thương thì người thầy hay cô sẽ hiểu và biết cách dạy HS, ngược lại các em quý mến GV hơn.Chỉ khi tình yêu thương đặt đúng chỗ, HS mới cảm nhận được tình cảm từ trái tim thầy cô. Nói cách khác, giữa thầy và trò luôn có sự đồng điệu về tâm hồn.Và giúp các em hiểu được ý nghĩa của việc học tập và có được những kĩ năng sống cơ bản cho mình.

 

          Trên thực tế có rất nhiều em cũng đã có một số kĩ năng sống tốt, nhưng bên cạnh đó thì còn rất nhiều em rất hạn chế về các kĩ năng như giao tiếp, xử lí tình huống, …. Vì vậy để các em có được các kĩ năng sống tôt thì điều này chính là nhờ vào sự dạy dỗ, rèn luyện, giáo dục của các thầy cô giáo, nhất là đối với các thầy cô làm công tác chủ nhiệm.

          b) Nội dung giải pháp:

             1.Tìm hiểu và nắm vững học sinh về mọi mặt để làm cơ sở đề ra những biện pháp giáo dục có hiệu quả.

a. Tìm hiểu về tâm sinh lý của học sinh:

b. Tìm hiểu mối quan hệ bạn bè Bạn bè.

c. Tìm hiểu năng lực học tập.

d. Tìm hiểu sở thích, năng khiếu.

e. Tìm hiểu về khả năng giao tiếp, ứng xử của học sinh.

2. Phân biệt giữa HS vùng thuận lợi và HS vùng khó khăn, nắm bắt những mặt khó khăn để có biện pháp khắc phục đối với HS vùng khó.

Sau khi đã thực hiện các bước tìm hiểu như trên, Giáo viên sẽ phân tích và nắm bắt những  nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong công tác giáo dục rèn kĩ năng sống đối với HS ở vùng khó.Các em HS ở những vùng này hầu như rất hạn chế về những kĩ năng sống như: học để biết, học làm người, học để sống với người khác. Nguyên nhân đó có thể là từ:

 • Điều kiện hoàn cảnh nơi sống, bản sắc vùng miền, những hủ tục lạc hậu, phong tục tập quán của mỗi địa phương, mỗi dân tộc.

 • Nền văn hóa chưa phát triển hoặc là phát triển chậm so với sự phát triển của xã hội.

 • Gia đình có mâu thuẫn, đổ vỡ, xung đột...hoặc gia đình đang gặp khó khăn.

 • Bản thân các em học kém do mất căn bản...

 • Sự lôi kéo của bạn bè vào những hoạt động không thiết thực...

 • Một vài Thầy Cô nào đó có những hành động khiến cho các em mất lòng tin...

 • Có thể do hoàn cảnh khó khăn, các em phải đi làm giúp bố mẹ.

 • Có thể do buồn chuyện gia đình, cảm giác tự ti xuất hiện, các em cảm thấy chán nản, mất phương hướng, tuyệt vọng, ... Từ việc xác định được các nguyên nhân chủ yếu, tôi tin rằng phần việc còn lại hoàn toàn không khó khăn với một Thầy Cô giáo tâm huyết với nghề, có tấm lòng yêu thương các em... nhằm giúp các em có thể khắc phục những khó khăn, thay đổi được những suy nghĩ chưa đúng, và có được những kĩ năng sống tốt riêng cho mình trong cuộc sống hàng ngày.

3. Chủ động phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.

a.Với Ban giám hiệu nhà trường và  Hội đồng khen thưởng, kỉ luật của nhà  trường.

b.Với giáo viên bộ môn trên lớp.

c.Với hội phụ huynh học sinh.

d.các ban ngành có liên quan đóng trên địa bàn xã.

4. Những yêu cầu không thể thiếu của một Giáo viên nhất là với một GVCN.

Yêu cầu về phẩm chất :cần có một nhận thức đúng đắn và sâu sắc về vị trí của mình, phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt….

Yêu cầu về kỹ năng: Một trong những kỹ năng quan trọng của người GV là nắm vững tâm lý học sinh, nắm bắt được các kĩ năng sống để tìm hiểu cũng như truyền tải tới HS.

Ngoài những yêu cầu trên, còn  một yêu cầu tuy không được đặt ra trong các văn bản nhưng nó lại chi phối tất cả, đó chính là cái “tâm” của người giáo viên. Không có một tấm lòng, mọi công việc sẽ chỉ là hình thức.Và như vậy, yêu thương chăm sóc các em không chỉ là mệnh lệnh mà còn là một nhu cầu không thể thiếu của trái tim người thầy cô giáo, đặc biệt nhất là người giáo viên chủ nhiệm.

Tóm lại, với những yêu cầu và biện pháp nêu trên, hy vọng rằng công tác giáo dục “Rèn kĩ năng sống” đối với HS vùng khó sẽ có những bước chuyển biến mới.

c) Khả năng áp dụng của giải pháp:

1. Thời gian, địa điểm, đối  tượng áp dụng.

2. Kết quả thực  hiện.

2.1. Vài nét về địa bàn áp dụng.

2.2. Thực trạng

2.3. Đánh giá  thực trạng.

d) Hiệu quả lợi ích thu được sau thời gian thu được:

e) Phạm vi ảnh hưởng của giải pháp:

g) Kiến nghị, đề xuất.

D- Những bài học kinh nghiệm.

 

                                                           Nà Bủng,ngày … tháng 10 năm 2017

                                                                             Người thực hiện

 

 

                                                               Trần Văn Dũng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Tác giả: Trần Văn Dũng
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Video Clip
Tài liệu mới